1. Nếu bạn có bài viết, hình ảnh hoặc những thông tin về Giao Thủy, hãy gửi bài trực tiếp lên Trang tin tức Cộng Đồng Giao Thủy Online hoặc hãy gửi về địa chỉ email: info@giaothuy.com

Sơ lược lịch sử vùng đất ngập nước tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy

Thảo luận trong 'Vườn Quốc Gia Xuân Thủy' bắt đầu bởi Timac LEO, 25/2/17.

By Timac LEO on 25/2/17 lúc 08:31
  1. Timac LEO

    Timac LEO Administrator Ban quản trị

    Tham gia ngày:
    18/10/09
    Bài viết:
    18,548
    Đã được thích:
    10,004
    Trải qua lịch sử gần 200 năm, vùng đất ngập nước ở cửa sông ven biển thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy hiện nay chứng kiến nhiều thay đổi cả theo chiều hướng tích cực cùng với những biến cố tiêu cực khác.

    [​IMG]
    Vườn Quốc Gia Xuân Thủy.​

    Đất ngập nước ở cửa sông ven biển thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy có lịch sử hình thành từ các quá trình bồi tụ phù sa của Sông Hồng và Biển Đông, Vùng đất nằm trong đê Ngự Hàn thuộc các xã vùng đệm của VQG Xuân Thủy được khai hoang lập ấp từ khoảng 170 năm về trước (theo lịch sử của xã Giao Hải mốc thời gian khai khẩn ở địa bàn bắt đầu từ năm 1840, do cụ Đinh Khắc Chu quê ở Kiên Lao- Xuân Trường và Cụ Nguyễn Duy Hàm quê ở làng Hành Thiện- Xuân Trường chủ trì để hình thành xã Kiên Hành- là Giao Long & Giao Hải ngày nay) .

    Sau quá trình khai hoang lập ấp là các công trình quai đê lấn biển theo truyền thống :” Lúa lấn cói, cói lấn vẹt và vẹt lấn biển”

    Vùng đất ở giáp chân đê Ngự Hàn ngày nay được gọi là Bãi Trong có lịch sử hình thành trên 150 năm. Ban đầu người dân địa phương đắp đê và trồng sú vẹt để phòng hộ đê. Khi đất đã tương đối ổn định dân địa phương trồng cói ở các khu vực ngọt lợ để lấy nguyên liệu dệt chiếu & lợp nhà, sau khi đất được ngọt hoá sẽ chuyển dần sang trồng lúa chịu mặn nhằm từng bước lấn biển.

    Những năm 60 tại Giao An xuất hiện mô hình lấn biển do Ông Trần Văn Thuần- Bí thư đảng uỷ xã - chủ trì đã huy động nhân dân địa phương quai đắp đê hình thành nên 02 khu Điện Biên và Bình Long với diện tích gần 200 ha, làm cơ sở hình thành nên Làng Điện Biên ở ngoài đê Ngự Hàn thuộc xã Giao An ngày nay.

    Những năm 70, khi hệ thống rừng ngập mặn bị phá bỏ, vùng bãi bồi thuộc địa phận xã Giao Long & Giao Hải bị biển xâm lấn mạnh mẽ, làm mất đi phần lớn diện tích đất bãi bồi tương ứng với địa phận quản lý hành chính của hai xã này.

    Khu vực Cồn Lu và Cồn Ngạn có lịch sử hình thành khoảng trên 100 năm. Hai cồn bãi này được người dân địa phương khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên với mục đích tự cấp tự túc là chính. Cồn Mờ (Cồn Xanh ngày nay) có lịch sử hình thành khoảng trên 20 năm.

    [​IMG]
    Điểm dừng chân tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy của nhiều loại chim, cò di cư​

    Khoảng giữa thập niên 80 của thế kỷ 20 bắt đầu có được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ tự cấp tự túc sang nuôi trồng thủy hải sản phục vụ cho mục đích thương mại và xuất khẩu. Năm 1986, UBND huyện Xuân Thủy triển khai đắp Đập Vọp ngăn Sông Vọp để lấy đường tiến công ra Cồn Ngạn quai đắp bờ đầm nuôi trồng quảng canh các loài hải sản bản địa như : tôm rảo, cua bể và rong câu chỉ vàng. Phong trào làm đầm tôm cũng được phát triển mạnh mẽ vào đầu những năm 90 khi có chủ trương xuất khẩu thủy sản sang các nước Châu Âu và Đông Bắc á. Hàng ngàn ha rừng ngập mặn trên các bãi bồi ở Cồn Ngạn và Cồn Lu đã được chuyển đổi mục đích từ phòng hộ ven biển sang nuôi trồng thủy sản. Cùng lúc với việc nuôi tôm, phong trào nuôi Ngao thương phẩm cũng đã lấn chiếm đất vùng bãi bồi còn hoang hóa ở khu vực cuối Cồn Lu & Cồn Ngạn để chuyển sang nuôi quảng canh loài ngao và các loài nhuyễn thể khác cũng được phát triển mạnh mẽ. Ban đầu dân địa phương chỉ nuôi Ngao bản địa (ngao dầu), sau đó chuyển sang nuôi Ngao Thanh Hóa (ngao méo) đến ngày nay là Ngao trắng Bến Tre và nuôi thêm một số loài nhuyễn thể khác như: Hà, Gion, Vẹm…

    Đập Vọp lúc đầu đã giúp dân địa phương mở mang bờ cõi, tiến dần ra biển để nuôi trồng và khai thác nguồn lợi thủy sản. Tuy nhiên do đập Vọp tạo sự ngăn cách của hai nguồn nước: nước ngọt từ Sông Hồng và nước mặn từ biển Giao Hải nên đã làm mất đi cân bằng sinh thái ở khu vực. Phía đầu Sông Hồng ( đông Đập Vọp) vì quá ngọt nên lau sậy phát triển mạnh chỉ có các loài tôm cá tạp ở hệ sinh thái ngọt lợ ( có giá trị kinh tế thấp) thích ứng được. Phía tây Đập Vọp bị mặn hóa, loài Hà phát triển mạnh, rừng ngập mặn bị lụi đi nhiều vì Hà bám và cũng do môi trương nước quá mặn chỉ có loài Hà là có thể thích ứng tốt nên hiệu quả nuôi trồng thủy sản ở khu vực không cao.

    Năm 1989 vùng bãi bồi ngập nước ở cửa Sông Hồng thuộc huyện Xuân Thủy được UNESCO công nhận gia nhập công ước quốc tế Ramsar.

    Năm 1992, UBND huyện Xuân Thủy thành lập Trung tâm tài nguyên môi trường thuộc huyện để giúp Chính phủ thực hiện cam kết đã ký với cộng đồng quốc tế về bảo tồn vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế tại Xuân Thủy.

    Năm 1992, Bộ lao động thương binh và xã hội phê duyệt dự án lấn biển Cồn Ngạn, bao gồm:” Phần diện tích đất ngập nước tính từ Đê Vành Lược đến đê Ngự Hàn chia thành 04 ô để có thể quy hoạch xây dựng khu kinh tế mới cho 03 xã mới.”

    Năm 1995, Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông Nghiệp &PTNT) phê duyệt Luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy; để sau đó UBND tỉnh Nam Hà quyết định thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên trực thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh Nam Hà.

    Nghề nuôi trồng thủy sản ở khu vực trải qua rất nhiều thăng trầm, từ việc ban đầu chỉ tập trung nuôi quảng canh một vài loài bản địa chủ yếu như: tôm, cua, ngao với việc đáp ứng thị trường tại chỗ đến việc mở rộng quy mô nuôi ( tăng diện tích, số loài và cường độ nuôi...) nhằm mục đích xuất khẩu. Dự án của Bộ Lao động TB&XH thay đổi mục tiêu từ việc lấn biển di dân hình thành 03 xã mới để chuyển sang nuôi trồng thủy sản phục vụ mục đích sản xuất hàng hóa. Cũng vì vậy một xã mới tương ứng với địa phận xã Giao An là xã Giao Hưng (1997) đã được Thủ Tướng Chính Phủ hủy bỏ quyết định vào năm 2003. Truyền thống lấn biển cũng được thay đổi thành: ” vẹt lấn biển, tôm lấn vẹt”.

    Rừng ngập mặn cũng có lịch sử hình thành khá phức tạp. Ban đầu chỉ là phong trào trồng Vẹt (Trang) tự phát để phòng hộ đê biển, sau đó địa phương đã nhận được các tài trợ nhỏ của Chính Phủ và các Tổ chức quốc tế. Năm 1995-1998, Rừng ngập mặn được trồng bằng nguồn kinh phí Phủ xanh đất trống đồi trọc ( Chương trình 327), Từ năm 1999 đến nay là Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng ( Chương trình 661). Đặc biệt từ năm 1997-2005 Hội chữ thập Đỏ Đan Mạch tài trợ cho huyện Giao Thủy dự án Phục hồi rừng ngập mặn với quy mô trồng RNM lên tới hàng ngàn ha và đã đạt được hiệu quả khá tích cực. Rừng Phi lao được trồng chủ yếu ở má ngoài Cồn Lu và dải cát ở má ngoài của Bãi Trong bằng các nguồn kinh phí như trên, Năm 1999 diện tích rừng phi lao ổn định đã lên tới trên 100 ha. Những năm gần đây do bị ảnh hưởng của bão gió và nước biển dâng nên rừng Phi lao bị suy giảm nhiều, Diện tích rừng bị thu hẹp chỉ còn khoảng 50 ha tập trung ở phía má ngoài Cồn Lu.

    [​IMG]
    Khai thác rau câu tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy
    Năm 2002, Đập Vọp được thông bằng Cầu Vọp, đồng thời với việc mở hàng loạt các kênh cấp thoát nước chạy dọc Cồn Ngạn, hệ thống nước được điều hòa hợp lý hơn. Năm 2004 là năm được mùa Ngao giống tự nhiên giúp cho cộng đồng địa phương có được nguồn thu nhập khá lớn ( hàng trăm tỷ đồng từ sản phẩm ngao các loại). Tuy nhiên mấy năm trở lại đây do việc canh tác bất hợp lý cộng với các yếu tố khách quan khác như: ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu, nghề nuôi trồng thủy sản nói chung ở khu vực bị suy giảm mạnh. Nhiều đầm tôm và vây vạng làm ăn kém hiệu quả, thất thu, bỏ đầm trống hoặc làm cầm chừng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nghề nuôi trồng thủy sản và an sinh xã hội ở khu vực.

    Năm 2003, Chính phủ quyết định chuyển hạng Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy thành Vườn quốc gia Xuân Thủy.

    Năm 2004, UNESCO tiếp tục công nhận Khu dự trữ sinh quyển ven biển liên tỉnh đồng bằng châu thổ Sông Hồng, trong đó Vườn quốc gia Xuân Thủy trở thành vùng lõi có tầm quan trọng đặc biệt của Khu dự trữ sinh quyển thế giới này.

    Như vậy, trải qua lịch sử gần 200 năm, vùng đất ngập nước ở cửa sông ven biển thuộc Vườn quốc gia Xuân Thủy hiện nay chứng kiến nhiều thay đổi cả theo chiều hướng tích cực cùng với những biến cố tiêu cực khác. Chúng ta ghi nhận nhiều bài học quý giá từ lịch sử tự nhiên đồng thời đã từng bước cố gắng điều chỉnh hành vi của mình để có cách ứng xử hài hòa với thiên nhiên hơn, nhằm tôn tạo giữ gìn di sản thiên nhiên quý giá ở Vườn quốc gia - Khu Ramsar quốc tế đồng thời là vùng lõi số 01 của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Châu thổ Sông Hồng, phấn đấu thực hiện mục tiêu: “Đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cho hôm nay và mãi lâu bền cho các thế hệ mai sau.”

    Vườn Quốc Gia Xuân Thủy
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Bình luận

Thảo luận trong 'Vườn Quốc Gia Xuân Thủy' bắt đầu bởi Timac LEO, 25/2/17.